Tùy thuộc vào mức độ phát triền
công nghiệp và mức sinh hoạt cao thấp của mọi cộng đồng mà nhu cầu về nước cấp
với số lượng và chất lượng khác nhau.Ngày nay với sự phát triển của công
nghiệp, đô thị và sự bùng nổ dân số nguồn nước càng ngày bị ô nhiễm và cạn
kiệt. …
Vì thế con người cần phải biết
cách xử lý các nguồn nước cấp đề đáp ứng cả về chất lượng lẫn số lượng cho sinh
hoạt hằng ngày và sản xuất công nghiệp.
2. Ưu và nhược điểm khi sử dụng nước ngầm:
2.1 Ưu điểm
-Nước
ngầm là tài nguyên thường xuyên, ít chịu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu như
hạn hán.
-Chất
lượng nước tương đối ổn định, ít bị biến động theo mùa như nước mặt.
-Chủ
động hơn trong vấn đề cấp nước cho các vùng hẻo lánh, dân cư thưa, nhất là
trong hoàn cảnh hiện nay bởi vì nước ngầm có thể khai thác với nhiều công suất
khác nhau.
-Để
khai thác nước ngầm có thể sử dụng các thiềt bị điện như bơm ly tâm, máy nén
khí, bơm nhúng chìm hoặc các thiết bị không cần điện như các loại bơm tay.
Ngoài ra nước ngầm còn đươc khai thác tập trung tại các nhà máy nuớc ngầm, các
xí nghiệp, hoặc khai thác phân tán tại các hộ dân cư. Đây là ưu điểm nổi bật
của nước ngầm trong vấn đề cấp nước nông thôn.
-Giá
thành xử lý nước ngầm nhìn chung rẻ hơn so với nước mặt.
2.2 Nhược điểm
-Một
số nguồn nước ngầm ở tầng sâu được hình thành từ hàng trăm, hàng nghìn năm và
ngày nay nhận được rất ít sự bổ cập từ nước mưa. Và tầng nước này nói chung
không thể tái tạo hoặc khả năng tái tạo rất hạn chế. Do vậy trong tương lai cần
phải tìm nguồn nước khác thay thế khi các tầng nước này bị cạn kiệt.
-Việc
khai thác nước ngầm với qui mô và nhịp điệu quá cao cũng sẽ làm cho hàm lượng
muối trong nước tăng lên từ đó dẫn đến việc tăng chi phí cho việc xử lý nước
trước khi đưa vào sử dụng.
-Khai
thác nước ngầm với nhịp điệu cao sẽ làm cho mực nước ngầm hạ thấp xuống, một
mặt làm cho quá trinh nhiễm mặn tăng lên, mặt khác làm cho nền đất bị võng
xuống gây hư hại các công trình xây dựng-một trong các nguyên nhân gây hiện
tượng lún sụt đất.
-Khai
thác nước ngầm một cách bừa bãi cũng dễ dẫn tới tình trạng ô nhiễm nguồn nước
ngầm.
3.Các phương pháp xử lý nước ngầm
Về
nguyên tắc nước chứa hàm lượng tạp chất ở dạng nào lớn hơn giới hạn cho phép
thì phải xử lý trước khi đem sử dụng. Cho đến nay người ta xử lý nước theo các
phương pháp sau:
Xử
lý nước ngầm bằng phương pháp cơ học
Nước
từ nguồn được bơm cấp 1 phun qua giàn mưa thành những tia nhỏ để ôxy của không
khí tác dụng với Fe2+ thành Fe3+. Nước dàn mưa được dẫn đi lắng lọc ở các bể
lọc chứa chất lọc (cát, đá, than hoạt tính…)
Xử
lý nước ngầm bằng phương pháp hóa học
Là
phương pháp dùng hóa chất, các phản ứng hóa học trong quá trình xử lý nước.
Nếu
nước có độ đục lớn chứng tỏ chứa nhiều chất hữu cơ và sinh vật phù du thì dùng
phèn và chất tạo keo tụ để ngưng tạp chất.
Nước
chứa nhiều ion kim loại (độ cứng lớn) xử lý bằng vôi, sôđa hoặc dùng phương
pháp trao đổi ion. Nước chứa nhiều độc tố H2S xử lý bằng phương pháp oxy hóa,
clo hóa, phèn.
Nước
chứa nhiều vi khuẩn thì phải khử trùng bằng các hợp chất chứa clo, ozon.
Nước
chứa Fe thì oxy hóa Fe2+ bằng oxy không khí (làm thóang giàn mưa) hoặc dùng
chất oxy hóa để xử lý…
Độ
kiềm của nước nhỏ làm cho quá trình keo tụ khó khăn, nước có mùi vị thì phải
kiềm hóa bằng amoniac (NH3). Sau khi cacbon hóa, clo hóa sơ bộ rồi thêm KMnO4.
Nước
có nhiều oxy hòa tan thì phải xử lý bằng cách dùng các chất khử để liên kết
oxy. Đó là hydrazin, natrithisunfat…
Nhìn
chung các phương pháp xử lý hóa học thường đạt năng suất và có hiệu quả cao.
Xử
lý nước ngầm bằng phương pháp vi sinh
Trên
thế giới hiện nay phương pháp xử lý nước bằng vi sinh đang được nghiên cứu và
có một số nơi đã áp dụng. Trong phương pháp này một số chủng loại vi sinh đặc
biệt đã được nuôi cấy và được đưa vào trong quá trìng xử lý nước với liều lượng
rất nhỏ nhưng đạt hiệu quả cao. Tuy nhiên cho đến nay những kết quả nghiên cứu
của phương pháp này chưa được công bố rộng rãi.
Tùy
thuộc vào nguồn nước làm nguyên liệu cho các lãnh vực khác nhau mà ngườt ta đã
sử dung cac phương pháp khác nhau để xử lý nước cấp cho lãnnh vực đó. Thông
thường thì người ta kết hợp cả 2 phương pháp cơ học và hóa học để xử lý nước.
4. Kỹ thuật và công nghệ xử lý nước ngầm
4.1 Các công trình thu nước ngầm
a. Giếng khoan
Giếng
khoan là công trình thu nước ngầm mạch sâu với công suất trung bình và lớn, có
độ sâu vài chục đến vài trăm mét và đường kính giếng phụ thuộc vào lưu lượng
cần khai thác. Giếng khoan gồm có: giếng khoan hoàn chỉnh (khoan tới lớp cách
nước) và giếng khoan không hoàn chỉnh (khoan lưng chừng đến lớp đất chứa nước)
giếng khoan có áp và không áp. Khi cần khai thác một lượng nước lớn, người ta
có thể dùng một nhóm giếng khoan, tuy nhiên trong trường hợp này các giếng sẽ
bị ảnh hưởng lẫn nhau khi làm việc đồng thời.
b. Hệ thống thu nước ngầm tầng nông
Đây
là loại công trình dùng để thu nước ngầm mạch nông ở những nơi nước ngầm sâu bị
nhiễm mặn, việc đào giếng khó khăn.
Đường
ống thu nước bao gồm một hệ thống ống thu nước đặt nằm ngang dạng đục lỗ hoặc
dạng xẻ rãnh ở đường ống, đặt trong lớp đất có chứa nước, có độ dốc để nước tự
chảy về giếng tập trung, từ đây có thể dùng gào múc hoặc máy bơm để lấy nước.
Để ngăn không cho cát chui vào bên trong ống thu nước, người ta thường xếp đá
dăm, cuội, sỏi xung quanh ống.
Trên
đường ống đưa nước về giếng tập trung, cứ khoảng 25-30m phải bố trí một giếng
thăm để kiểm tra nước, lấy cặn và thông hơi.
c. Phương tiện lấy nước từ giếng lên
Để
lấy nước từ giếng lên người ta thường sử dụng gầu múc nước bằng tay (với các
giếng đào khơi) hoặc các loại bơm giếng khác nhau.
Một
trong những bơm giếng phổ biến nhất ở vùng nông thôn là giếng bơm tay theo mô
hình của UNICEF. Để bơm nước từ các giếng khoan qui mô nhỏ, người ta thường sử
dụng các loại bơm ly tâm hoặc máy nén khí. Đối với các giếng khoan qui mô công
nghiệp, người ta thường sử dụng bơm hỏa tiễn.
Tính
toán thủy lực giếng lấy nước ngầm có thể chia ra: giếng đơn chiếc (không chịu
ảnh hưởng của các giềng bơm khác), và nhóm giếng bơm, với sơ đồ bố trí có quan
hệ thủy lực với nhau.
4.2 Công trình xử lý sắt, mangan
Các
phương pháp khử sắt, mangan trong nước ngầm
a. Khử sắt, mangan bằng phương pháp làm thoáng
Sắt,
Mangan trong nước thường tồn tại ở dạng Fe2+, Mn2+ vì vậy muốn loại chúng ra
khỏi nước cần oxy hóa chúng thành muối Fe3+, Mn4+ ở dạng ít tan rối dùng phương
pháp lắng, lọc dể giữ chúng lại và loại chúng ra khỏi nước. Muốn oxy hóa Fe2+
thành Fe3+, Mn2+ thành Mn4+ người ta thường sử dụng phương pháp làm thoáng tự
nhiên hay cưỡng bức (các dàn mưa hay quạt gió). Thực chất của phương pháp làm
thoáng là làm giàu oxy cho nước, tạo điều kiện cho Fe2+ oxy hoá thành Fe3+ sau
đó Fe3+ thực hiện quá trình thủy phân để tạo thành hợp chất ít tan Fe(OH)3,Mn2+
thành MnO2 rồi dùng bể lọc để giữ lại.
b. Khử sắt,mangan bằng phương pháp dùng hóa chất
Khử
sắt,mangan bằng chất oxy hóa mạnh
-
Các chất oxy mạnh thường dùng để khử sắt là: Cl2, KMnO4, O3…So sánh với phương
pháp khử sắt bằng làm thoáng ta thấy, dùng chất oxy hóa mạnh phản ứng xảy ra
nhanh hơn, pH môi trường thấp hơn (pH
c. Các phương pháp khác để khử sắt và mangan
Khử
sắt,mangan bằng phương pháp trao đổi ion
Việc
sử dụng phương pháp trao đổi ion khử sắt và mangan cũng tương đối thông dụng.
Do hai nguyên tố này có hóa trị hai nên dễ dàng bị hấp phụ bởi các vật liệu
trao đổi ion.
Khó
khăn của phương pháp này là nếu sắt và mangan bị oxy hóa bởi oxy thì nó sẽ bám
lên các vật liệu trao đổi ion và mất tác dụng của chúng.
Vì
vậy việc kiểm soát hàm lượng oxy hòa tan trong nước vào hệ thống trao đối ion
là rất quan trọng.
Khử
sắt bằng phương pháp điện phân
Dùng
các cực âm bằng sắt, nhôm cùng cac cực dương bằng đồng mạ niken và dùng điện
cực hình ống trụ hay hình sợi thay cho tấm điện cực phẳng.
Phương
pháp dùng muối polyphotphat
Polyphotphat
có thể tạo nên các kết tủa sắt và mangan rất nhanh và hiệu quả. Polyphotphat
được hòa trộn với liều lượng khoảng gấp 2 lần nồng độ của sắt và mangan. Tuy
nhiên phương pháp dùng muối polyphotphat sẽ không thích hợp cho các nguồn nước
có hàm lượng sắt và mangan vượt quá 1 mg/l.
4.3 Các phương pháp làm mềm nước
Quá
trình làm mềm nước (khử độ cứng) có thể thực hiện bằng cách tạo kết tủa không
tan hoặc bằng phương pháp trao đổi ion. Quá trình làm mềm nước cũng có thể kết
hợp với quá trình khử khoáng bằng cách sử dụng màng bán thấm. Màng lọc bán thấm
áp suất thấp có thể được dùng cho việc làm mềm nước có TDS thấp.
4.3.1 Phương pháp làm mềm bằng kết tủa
Tác
nhân làm mềm nước thường sử dụng là vôi hoặc soda. Sự lựa chọn tác nhân này hay
tác nhân kia là phụ thuộc vào chất lượng nguồn nước và tính toán kinh tế. Khi
độ kiềm cacbonat chiếm ưu thế, quá trình làm mềm có thể thực hiện bằng cách
tăng pH và cả CaCO3 , Mg(OH)2 đều kết tủa. Khi độ kiềm cacbonat quá thấp, hàm
lượng cacbonat phải được bổ sung bằng bột soda.
Các
phản ứng chính:
CO2
+ Ca(OH)2 = CaCO3 + H2O
Ca(HCO3)
+ Ca(OH)2 = 2CaCO3 + H2O
Mg(HCO3)2
+ 2Ca(OH)2 = Mg(OH)2 + 2Ca(CO3) + H2O
MgSO4
+ Ca(OH)2 = Mg(OH)2 + CaSO4
4.3.2 Quá trình làm mềm nước bằng vôi – soda
Khi
độ kiềm cacbonat không đủ để phản ứng với vôi thì cần phải cung cấp từ nguồn
bên ngoài, thông thường sử dung soda bột Na2CO3. Phương trình phản ứng:
CaSO4
+ Na2CO3 = CaCO3 + Na2SO4
4.3.3 Quá trình làm mềm bằng xút
Xút
cũng được sử dụng khi độ cứng cacbonat không đủ để phản ứng với vôi. Sự lựa
chọn giữa soda bột và xút không chỉ phụ thuộc vào lý do kinh tế mà còn phụ
thuộc vào các yếu tố như vận hành dễ dàng hệ thống xử lý và hàm lượng magiê
trong nguồn nước.
Các
phản ứng:
CO2
+ 2NaOH = Na2CO3 + H2O
Ca(HCO3)2
+ 2NaOH = CaCO3 + Na2CO3 +2H2O
Mg(HCO3)2
+ 2NaOH = Mg(OH)2 + Na2CO3 + H2O
MgSO4
+ 2NaOH = Mg(OH)2 + Na2SO4
CaSO4
+ Na2CO3 = CaCO3 + Na2SO4
5. Khử trùng
Về
nguyên lý các quá trình khử trùng có thể thực hiện bằng phương pháp vật lý hoặc
phương pháp hóa học.
5.1 Phương pháp vật lý
Phương
pháp nhiệt: khi đun sôi nước ở 100 oc đa số các vi sinh vật bị tiêu diệt. Tuy
nhiên có một số vi sinh vật khi nhiệt độ cao liền chuyển sang dạng bào tử với
lớp bảo vệ vững chắc. Để tiêu diệt nhóm vi khuẩn này cần đun sôi nước đến 120
oc. Phương pháp nhiệt tuy đơn giản nhưng tốn năng lượng và thiết bị nên thường
áp dụng ở quy mô nhỏ.
Phương pháp UV: tia UV (tia cực tím) có khả năng tiêu diệt hầu hết các vi sinh vật. Trong kỹ thuật, khi lưu lượng nước cần khử trùng nhỏ, có thể sử dụng các thiết bị khử trùng bằng tia UV. Cơ cấu chính của thiết bị là các đèn bức xạ, tia tử ngoại đặt trong dòng chảy của nước. Hiệu quả của phương pháp này chỉ đạt được hoàn toàn khi trong nước không có chất hữu cơ và cặn lơ lửng.
Phương pháp siêu âm: Dòng siêu âm với cường độ từ 2w/cm2 trở đi trong khoảng thời gian trên 5 phút có khả năng tiêu diệt toàn bộ vi sinh vật trong nước.
Phương pháp lọc: Đại bộ phận vi sinh vật trong nước có kích thước từ 1-2 micromet. Nếu đem lọc nước qua lớp lọc có kích thước khe rỗng nhỏ hơn 1 micromet có thể loại trừ được đa số vi khuẩn. Lớp lọc thường dùng các tấm sành, sứ, xốp với khe rỗng cực nhỏ. Dùng phương pháp này nước phải có hàm lượng cặn nhỏ hơn 2 mg/l.
Phương pháp UV: tia UV (tia cực tím) có khả năng tiêu diệt hầu hết các vi sinh vật. Trong kỹ thuật, khi lưu lượng nước cần khử trùng nhỏ, có thể sử dụng các thiết bị khử trùng bằng tia UV. Cơ cấu chính của thiết bị là các đèn bức xạ, tia tử ngoại đặt trong dòng chảy của nước. Hiệu quả của phương pháp này chỉ đạt được hoàn toàn khi trong nước không có chất hữu cơ và cặn lơ lửng.
Phương pháp siêu âm: Dòng siêu âm với cường độ từ 2w/cm2 trở đi trong khoảng thời gian trên 5 phút có khả năng tiêu diệt toàn bộ vi sinh vật trong nước.
Phương pháp lọc: Đại bộ phận vi sinh vật trong nước có kích thước từ 1-2 micromet. Nếu đem lọc nước qua lớp lọc có kích thước khe rỗng nhỏ hơn 1 micromet có thể loại trừ được đa số vi khuẩn. Lớp lọc thường dùng các tấm sành, sứ, xốp với khe rỗng cực nhỏ. Dùng phương pháp này nước phải có hàm lượng cặn nhỏ hơn 2 mg/l.
Khử
trùng bằng phương pháp vật lý có ưu điểm cơ bản không làm thay đổi tính chất lý
hóa của nước không gây nên các hậu quả phụ. Tuy nhiên do hiệu suất thấp nên
thường chỉ áp dụng ở quy mô nhỏ với các điều kiện kinh tế kỹ thuật cho phép.
5.2 Phương pháp hóa học:
Cở
sở của phương pháp hóa học là sử dụng các chất oxy hóa mạnh để oxy hóa men của
tế bào vi sinh và tiêu diệt chúng. Các hóa chất thường dùng là Clo, Brôm, Iốt,
Ozôn, Kalipemanganat.
a. Khử trùng bằng Clo và các hợp chất của nó
Clo
là một chất oxy hóa mạnh ở bất cứ dạng nào dù là nguyên chất hay hợp chất khi
tác dụng với nước đều tạo ra phân tử axit hypoclorit có tác dụng khử trùng nước
mặt. Tốc độ của quá trình khử trùng tăng khi nồng độ của chất khử trùng và
nhiệt độ trong nước tăng, đồng thời phụ thuộc vào dạng không phân ly của chất
khử trùngvì quá trình khuếch tán trong vỏ tế bào xảy ra nhanh hơn trong quá
trình phân ly. Tốc độ khử trùng bị chậm rất nhiều khi trong nước có các chất
hữu cơ, cặn lơ lửng và các chất khử khác. Khi cho Clo vào nước xảy ra các phản
ứng sau:
Cl2
+ H2O = HOCl + HCl.
Hoặc
ở dạng phương trình phân ly:
Cl2
+ H2O = 2H+ + OCl- + Cl-
Khi
sử dụng Clorua vôi làm chất sát trùng phản ứng sẽ là:
Ca(OCl)2
+ H2O = CaO + 2HOCl
2HOCl
= 2H+ + 2OCl-
Khi
pH tăng, nồng độ HOCl giảm làm cho hiệu quả khử trùng cũng giảm đi tương ứng.
Để quá trình khử trùng nước bằng Clo có hiệu quả cao nhất nên tiến hành khi
nước có độ pH thấp, trước khi xử lý ổn định nước. Khi trong nước có muối amoni,
amoniac hay các hợp chất hữu cơ có chứa nhóm amoni thì axit hypoclorit tham gia
vào phản ứng với chúng tạo thành monocloramin và đicloramin:
HClO
+ NH3 = NH2Cl + H2O
HClO
+ NH2Cl = NHCl2 + H2O
HOCl
+ NHCl2 = NCl3 + H2O
Đồng
thời khả năng diệt trùng bị giảm đi. Khả năng diệt trùng của monocloramin thấp
hơn của đicloramin 2 đến 3 lần.
Để
đảm bảo cho quá trình khử trùng đạt hiệu quả tốt, sau khi khử trùng cần giữ lại
trong nước một lượng clo dư thích hợp. Với các hệ thống cấp nước sinh hoạt
lượng clo dư thường từ 0,2-0,3 mg/l để chống sự tái nhiễm bẩn trong mạng lưới
đường ống phân phối hoặc nơi tiêu thụ.
b. Khử trùng nước bằng Iốt:
Iốt
là chất oxy hóa mạnh và thường được dùng để khử trùng nước ở các bể bơi. Là
chất khó hòa tan nên Iốt được dùng ở dạng dung dịch bão hòa. Độ hòa tan của Iốt
phụ thuộc vào nhiệt độ nước. Ở 0oc đọ hòa tan của Iốt là 100mg/l, ở 20oc là
300mg/l. Khi độ pH của nước nhỏ hơn 7 liều lượng Iốt sử dụng lấy từ 0,3-1 mg/l.
Nếu sử dụng liều lượng cao hơn 1,2 mg/l sẽ làm cho nước có mùi vị Iốt.
c. Khử trùng nước bằng ion các kim loại nặng:
Với
nồng độ rất nhỏ của ion kim loại nặng có thể tiêu diệt được các loại sinh vật
và rêu tảo sống trong nước. Diệt trùng bằng ion kim loại nặng đòi hỏi thời gian
tiếp xúc lớn. Tuy nhiên không thể nâng cao nồng độ kim loại nặng để giảm thời
gian diệt trùng vì khi đó sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng nước.
d.khử trùng nước bằng ozôn
Hiện nay khử trùng nước bằng ozôn đang phát triển mạnh trên thế giới. Khi cho Ozôn vào nước, nó phá hủy không chỉ các men và cả vi sinh chất của tế bào. Với vi khuẩn bào tử ozôn có tác dụng mạnh hơn Clo 300-800 lần. Đồng thời ozôn còn oxy hóa các hợp chất hữu cơ gây ra màu, mùi vị của nước. Tuy nhiên ozôn rất độc đối với con người. Trong nước nó phân hủy rất nhanh thành oxy phân tử và nguyên tử. Tốc độ phân hủy tăng nhanh khi nồng độ muối, pH và nhiệt độ muối tăng.
Hiện nay khử trùng nước bằng ozôn đang phát triển mạnh trên thế giới. Khi cho Ozôn vào nước, nó phá hủy không chỉ các men và cả vi sinh chất của tế bào. Với vi khuẩn bào tử ozôn có tác dụng mạnh hơn Clo 300-800 lần. Đồng thời ozôn còn oxy hóa các hợp chất hữu cơ gây ra màu, mùi vị của nước. Tuy nhiên ozôn rất độc đối với con người. Trong nước nó phân hủy rất nhanh thành oxy phân tử và nguyên tử. Tốc độ phân hủy tăng nhanh khi nồng độ muối, pH và nhiệt độ muối tăng.
Ozôn
được sản xuất tại các nhà máy nước bằng các thiết bị đặc biệt, hoạt động theo
nguyên lý phóng điện qua không khí.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét